Thiên Quan Song Hiệp

Chương 50: Cốc trung cấm địa

Trịnh Phong

01/03/2013

Trong U Vi cốc cách đó ngàn dặm, Triệu Quan chính thức tiếp nhiệm ngôi vị môn chủ Bách Hoa môn. Cậu bàn bạc với Thanh Trúc, nhận thấy đây là một đại sự để thống nhất luôn Bách Hoa môn. Từ khi Bách Hoa bà bà tạ thế, Bách Hoa môn chia thành tam đường, trên danh nghĩa thì Bạch Thủy Tiên là môn chủ nhưng trên thực tế không chịu lệ thuộc, mạnh đường nào đường nấy làm. Triệu Quan đánh bại thủ lĩnh Thủy Tiên, Bách Hợp và Hắc Tứ đường, danh chính ngôn thuận trở thành môn chủ nhưng địa vị chưa vững. Bạch Lan Nhi của Thủy Tiên đường còn chịu nghe lý lẽ, tất không sinh biến, Tiêu Mai Khôi và Tiểu Cúc xuất thân phỉ đạo, một khi có gì không vừa ý mà nảy lòng chống đối thì rầy rà to. Bọn lão môn nhân như Tử Khương tuy không ra mặt nhưng ngấm ngầm sinh sự ắt phiền hà vô cùng. Hỏa Hạc đường chỉ còn lại ba người, thế lực đơn bạc, không thể đấu với ba đường kia, kế sách trước mắt phải vỗ về các đường rồi từ từ thu phục về một mối.

Triệu Quan liền triệu tập môn nhân, tuyên bố: “Bổn tọa tuổi trẻ đức mỏng, tài đức đều không đủ mà phải nhận trách nhiệm trọng đại, e là sẽ phụ lòng mọi người. Vì thế, bổn tọa muốn mời mấy vị sư bá, sư tỷ tương trợ, làm trợ lý cho bổn tọa, tất cả sẽ được phong làm trưởng lão, chấp chưởng mọi việc trong môn phái.”

Cậu nhìn sang đám người của Đệ tứ đường rồi nói: “Bổn tọa đặc biệt mời Tử Khương sư thúc làm Chấp pháp trưởng lão, chuyên chức trông coi trật tự của bản môn. Chấp pháp trưởng lão phát hiện bất kỳ ai vi phạm môn quy, cứ việc toàn quyền xử trí, bổn tọa hoặc đường chủ các đường đều không được can thiệp.”

Tử Khương không ngờ Triệu Quan lại giao cho mình trọng trách, hết sức kinh ngạc, vội bước lên cúi người nói: “Tử Khương cẩn tuân hiệu lệnh.”

Triệu Quan lại phân phó: “Bổn tọa muốn mời Lan Nhi sư tỷ làm Truyền công trưởng lão, chuyên chức phát dương quang đại vũ công độc thuật của Bách Hoa bà bà, truyền thụ cho đệ tử trong môn phái. Các môn nhân có bất kỳ sáng tạo, cải tiến, bổ khuyết gì về độc thuật cứ báo với Truyền công trưởng lão. Truyền công trưởng lão đồng thời duy trì để độc thuật của bản môn không lưu truyền ra ngoài khiến người ngoài không thể giải trừ.”

Bạch Lan Nhi từng giúp Bạch Thủy Tiên tập hợp, chỉnh lý lại độc thuật bản môn, giờ được đảm nhiệm chức vụ phù hợp thành ra hân hoan tiếp lệnh. Triệu Quan lại mời Tiêu Mai Khôi làm Hộ pháp trưởng lão, chuyên chức ra mặt giúp đỡ khi môn nhân gặp nguy nan, mời Thanh Trúc làm Thiện tài trưởng lão, chuyên lo việc phân phối tài vật của môn phái, mời Tiểu Cúc làm Khảo tích trưởng lão, chuyên tiếp nhận môn nhân mới, nắm bắt công tích của môn nhân để tưởng thưởng cho xứng đáng.

Triệu Quan tiếp tục: “Những đại sự sau này trong môn phái đều do bổn tọa cùng năm vị trưởng lão cùng quyết định. Bổn môn đang lúc nguy cấp, chúng ta phải cùng đồng tâm hiệp lực, phòng bị những kẻ đối đầu đến tập kích và vực dậy bản môn, báo cừu cho Bách Hợp đường chủ và Hỏa Hạc đường chủ.”

Các môn nhân thấy cậu bố trí thỏa đáng, năm vị trưởng lão đều được phân bố vào đúng chức vụ theo sở trường nên không lời ra tiếng vào. Trong vòng mấy ngày, Triệu Quan nhất nhất gặp gỡ hơn ba trăm môn nhân, hỏi han những chuyện họ trải qua từ lúc nhập môn cùng những vũ công độc thuật đã học qua, đang làm chức vụ gì… Tính cậu bình dị, lớn lên giữa nơi nhiều trẻ con nên hiểu rất rõ tâm tính con trẻ, với cả người ít tuổi hoặc lớn tuổi hơn đều giao tiếp được, sau mấy ngày thì nhớ được mặt mũi, hoàn cảnh cùng đặc điểm tính cách nổi bật của đại bộ phận môn nhân, cứ gặp mặt là gọi đúng tên.

Hôm đó, Triệu Quan cùng Thanh Trúc trò chuyện riêng tư với Thanh Trúc, trong lòng máy động, không nén được buột miệng hỏi: “Trúc tỷ, tỷ có biết ai là phụ thân đệ không?” Cậu vẫn luôn canh cánh chuyện này, giờ mới có cơ hội hỏi Thanh Trúc.

Thanh Trúc hơi ngẩn người, hỏi ngược lại: “A Quan, mấy năm nay có ai đến tìm đệ à?”

Triệu Quan kể lại chuyện Thành Đạt và Vân Long Anh nhận mình làm con. Thanh Trúc nói: “Chỉ có hai vị đó, không còn người khác nữa chứ?”

Triệu Quan run run, hỏi: “Lẽ nào còn người khác?”

Thanh Trúc ngẩng đầu, trầm tư một hồi mới trả lời: “A Quan, nương nương đã mất rồi, rốt lại đệ là con ai thì bà chưa từng nói với tỷ. Nhưng tỷ biết sau khi đệ chào đời, nương nương đã gửi đi tổng cộng ba phong thư báo cho ba người rằng đệ là nhi tử của họ. Trong năm trước đó, nương nương có gần gụi với Lãng Tử, ba ngày thì có đến hai ông ta ở lại qua đêm nên tỷ biết đó là một người. Tỷ cũng thấy Vân bang chủ đến tìm nương nương. Nghe đệ kể thì hai vị đó chắc đều nhận được thư của nương nương. Còn phong thư thứ ba gửi cho ai thì tỷ cũng không biết.”

Triệu Quan lấy làm kỳ lạ: “Trúc tỷ, lúc đó tỷ ở cạnh mẫu thân mà cũng không biết người thứ ba là ai sao?”

Thanh Trúc đáp: “Tỷ chỉ được nghe nói về người này chứ chưa từng gặp mặt. Nương nương có nói sơ qua, năm đó kẻ đối đầu của người này đến yêu cầu nương nương hạ độc người đó khiến y lạc bại trong ngày quyết đấu thứ hai. Nương nương đến tìm gặp người đó, hết sức bội phục phong thái anh hùng khí khái của y nên không hạ độc. Ngày thứ hai của trận quyết đấu thế nào thì tỷ không rõ, chắc là người đó thắng, tuy nhiên người đó là ai thì nương nương thủy chung không hé môi tiết lộ. Chuyện đó lại xảy ra đúng mười tháng trước khi đệ chào đời, vì thế tỷ mới đoán là phong thư thứ ba được giao cho y.”

Triệu Quan nghe kể mà run, mọc ra hai vị phụ thân đã đủ kỳ quái rồi, không ngờ còn cả người cha thứ ba thần bí này. Cậu lắc đầu: “Thanh Trúc tỷ, người thứ ba nhận được thư là ai, tỷ không có manh mối nào sao?”

Thanh Trúc đáp: “Tỷ chỉ biết người đó là một vị hiệp sỹ tiếng tăm trên giang hồ, võ công siêu việt còn là ai thì tỷ không tài nào đoán ra.” Nàng ta ngoẹo đầu ngẫm nghĩ rồi nói: “A Quan, tỷ nhớ được một chuyện. Nương nương từng nói rằng lúc bà đặt tên cho đệ đã cân nhắc ai là người có khả năng là phụ thân đệ hơn cả.”

Triệu Quan kinh ngạc, hỏi: “Tên đệ à?”

Thanh Trúc đáp: “Đúng thế. Lúc đó nương nương bảo đệ nhiều khả năng là con của Thành Đạt hoặc người thứ ba. Bà đặt tên đệ là Quan, là từ chữ Đạt trong Thành Đạt, hàm ý ‘đạt quan’(hiển đạt).”

Triệu Quan thuận miệng nói: “Nhưng đệ họ Triệu, nhất định có quan hệ với người thứ ba.”

Thanh Trúc đáp: “Quá nửa là thế.”

Triệu Quan trầm ngâm: “Chẳng lẽ người đó họ Triệu? Trong võ lâm có cao thủ nào họ Triệu không nhỉ? Hay có cao thủ nào tên có chữ Triệu không?”

Thanh Trúc đáp: “Tỷ từng nghĩ đến Thanh Bang bang chủ Triệu Tự Tường nhưng ông ta đã già rồi, lại ở tận Vũ Hán xa tít tắp, võ công cũng thường thường thôi nên khả năng không cao. Bang chủ đời trước của Cái Bang là Triệu Mạn cũng họ Triệu nhưng chết nhiều năm rồi. Trong Cửu Lão cũng có người tên Triệu Băng song người này cũng là nhân vật thuộc hàng lão bối, đã tám chục tuổi rồi. Trong võ lâm còn có hảo thủ nào khác họ Triệu thì tỷ chưa được nghe qua.”

Triệu Quan ôm một bụng hoài nghi, thầm nghĩ: “Bản lĩnh của mẹ lớn thật, Thành đại thúc và Vân bang chủ đều là những hảo hán tử, mà người thứ ba hình như còn hoành tráng hơn. Không biết người đó rốt lại là ai? Có còn sống không? Mình có phải là con của Thành đại thúc?” Lại nghĩ mẫu thân đã có ý giấu giếm thì mình có cả nghĩ cũng khó lòng đoán ra người đó là ai, thôi thì tạm cất vào trong óc đã.

Cậu đã ở trong U Vi cốc hơn mười ngày, hôm đó cậu dẫn Đinh Hương rong ruổi khắp cốc, Đinh Hương đột nhiên bảo: “Môn chủ, cốc này kỳ quái thật, bốn bề toàn là núi, chỉ mỗi phía tây có thông đạo đi vào. Thế thì nước từ ngọn thác này từ đâu mà chảy xuống?”

Cậu cũng thấy hiếu kỳ, quan sát dòng thác trắng xóa từ ngàn thước đổ xuống rồi đáp: “Có khi bên dưới cốc này còn có một toà cốc khác.”

Hai người nảy lòng tò mò, đi đến gần ngọn thác. Lại thấy trên đường mòn có dựng một tấm bia phủ đầy rêu xanh, Triệu Quan gạt hết rong rêu thì thấy trên bia có ghi: “Bách Hoa cấm địa, môn nhân mau quay lại, môn chủ được vào.”

Cậu thầm nhủ: “Cái cốc bé tí này thì có cấm địa gì, kỳ quái thật.” Đinh Hương đọc được chữ ghi trên bia nên không dám đi tiếp, cậu đành một mình vào bờ hồ xem xét, song không thấy gì khác lạ. Cậu nhìn xuống ao nước dưới chân thác thấy nước rất trong, hình như là nước sạch, không giống như nước bị nhiễm độc trong Bích Ba trì. Cậu quay về hỏi Bạch Lan Nhi đó là nơi nào. Lan Nhi đáp: “Nghe kể rằng năm xưa Bách Hoa sư tổ từng ẩn cư tại Bách Hoa cốc trên Nhạn Đãng Sơn, Bách Hoa cốc có địa nhiệt, hoa nở quanh năm, là kỳ cảnh trên đời. Tiên sư từng đến Nhạn Đãng Sơn tìm Bách Hoa cốc nhưng không thấy mà thấy tòa cốc này, đặt tên là U Vi cốc. Bách Hoa bà bà có đến U Vi cốc mấy lần, tấm bia dưới chân thác là do bà bà lập, Lan Nhi cũng không biết để làm gì?”

Triệu Quan lấy làm kỳ quái: “Thủy Tiên sư bá sao lại không tìm được Bách Hoa cốc. Chẳng lẽ chưa có ai từng đến nơi Bách Hoa sư tổ ẩn cư?”

Bạch Lan Nhi đáp: “Bách Hoa sư tổ hành tung bí ẩn, nơi sư tổ ẩn cư lúc về già đích xác là chưa có đệ tử nào được tới.”

Triệu Quan chưa từng gặp Bách Hoa bà bà, chỉ nghe mẫu thân kể lại sự tích của bà nên luôn đem lòng hiếu kỳ với vị tổ sư này. Chiều hôm đó, cậu lại một mình đến bờ tiểu hồ xem xét, quan sát thật kỹ tấm bia đá nhưng không phát hiện được gì, lại tìm đến cái ao dưới chân thác. Trong U Vi cốc đâu đâu cùng đầy chất độc, cậu thân là Bách Hoa môn chủ nhưng vẫn chưa quen với vị trí, giờ thấy nước trong leo lẻo thì không kìm được tính trẻ con, cởi hài ra, vén ống quần lên rồi thò chân vào nước mát. Nước ao lạnh băng, nhìn xuống thấy cá con, nòng nọc nhao nhao luồn qua bàn chân, cảm giác rất thú vị, hai chân khua mạnh, tức thì nước văng tứ tung. Thình lình cậu thấy đàn cá lẩn vào một khe đá rồi biến mất, khe đá rất rộng, quẹo sang mé tả, tựa hồ có thông lộ dẫn sang nơi khác. Cậu xắn hẳn quần lên lội xuống, gần bờ ao nước khá nông nhưng đến giữa ao thì khá sâu, không thể lội qua được. Cậu lại cởi luôn áo, ném lên bờ, hít một hơi đoạn lặn xuống nước chui vào khe đá.

Nước ao trong vắt, nhìn rõ cả đáy, dưới đáy ao phủ đầy những viên sỏi trắng. Triệu Quan đến gần khe đá, thấy một dòng nước bé xíu liu riu rẽ sang hướng tả, hình như là một thông lộ. Cậu men theo dòng nước chừng bảy, tám trượng thì đến một cái ao lớn hình tròn, giống như là cái ao thiên nhiên, ba mặt đều là vách đá, trên vách có dòng thác đổ xuống, đúng là kỳ quan. Cậu bò lên một khối đá giữa ao, ngẩng đầu nhìn dòng nước từ trên trời bay thẳng xuống, chỉ thấy trên cao vòm không xanh biếc, vách đá chắc phải cao đến ngàn thước.

Cậu ngồi lặng lẽ một lúc, đột nhiên chú ý thấy trên bức vách phía tây có một đồ hình to cỡ nắm tay, cậu định thần nhìn kỹ, nhận ra đó là một ấn ký đã lờ mờ của Bách Hoa môn, giống với ấn ký trên tay mình bèn nhủ thầm: “Nguyên lai bức vách này là của người Bách Hoa môn bọn mình.”

Lại nghĩ: “Ai lại đóng ấn ký lên bức vách này nhỉ? Bách Hoa bà bà hoặc Thủy Tiên sư bá nhất định đã đến đây, hai người đó không sợ nước lạnh, đã đến cái ao này.” Cậu thấy bên hữu đồ hình có một mũi tên chỉ xuống. Nửa thân trên của cậu dính nước, bị gió lùa qua, bất giác thấy lành lạnh, bèn nhảy xuống ao bơi đến dưới đồ hình, thầm nhủ: “Bên dưới mũi tên có thứ gì nhỉ?” Lặn xuống nước, thấy dưới độ sâu bốn, năm trượng có một chùm sáng, hình như là một viên minh châu cực lớn.

Cậu thầm nhủ: “Bảo bối gì thế?” Ngoi đầu lên hít không khí rồi lại lặn xuống nước xem xét dải ánh sánh, lần này cậu lặn xuống sâu, không thấy minh châu gì hết mà là một huyệt động. Đến gần thì ra đó là một hốc đá thiên nhiên, một bên tỏa ra ánh sáng, hiển nhiên có lối ra, cậu bế khí, chui vào hốc đá, thấy ngoài vùng nước sáng rực lên, sáng hơn cả bên ngoài ao. Cậu nổi lên mặt nước đổi hơi, lặng lẽ ngắm nhìn cảnh quan, bất giác ngẩn người.

Bạn đang đọc truyện trên: Webtruyen.com

Nhận xét của độc giả về truyện Thiên Quan Song Hiệp

Số ký tự: 0

    Bình luận Facebook